Nom du blog :
haitrieu
Description du blog :
bendoi
Catégorie :
Blog Littérature
Date de création :
03.12.2010
Dernière mise à jour :
23.10.2013
Accueil
Gérer mon blog
Créer un blog
Livre d'or haitrieu
Contactez-moi !
Faites passer mon Blog !
· NGUYỄN VĂN QUANG - Tưởng Niệm Nhà Thơ HỮU PHƯƠNG
· 1956 - KHOÁ 7 RA KHƠI VƯỢT TRÙNG DƯƠNG TỚI BỜ CÁT TRẮNG
· Sao rơi trên biển
1956, Khoá 7 Ra khơi Vượt trùng dương tới bờ cát trắng
*
Sau khi mang cấp hiệu chuẩn uý, giữa năm 1956, toàn thể Sinh viên Sĩ quan Hải Quân Khoá 7 cả hai ngành Chỉ huy (1) và Cơ khí (2) chuẩn bị thực tập hải hành dài ngày trên biển (3). Thời đó, cấp hiệu đeo ở cầu vai của Sĩ quan ngành Chỉ huy dùng nỉ mỏng màu xanh đậm; ngành Cơ khí, nhung màu tím. Khung cảnh sinh hoạt hằng ngày trở nên nhộn nhịp, ngoài việc theo dõi bài giảng ở lớp, các Sinh Viên Sĩ Quan (SVSQ) "Pont" còn phải đến Kho dung-cụ Giám-lộ để mượn bản đồ dung cụ hải hành dùng cho hải trình từ Nha Trang đi Đà Nẵng; SVSQ Cơ khí đến thư viện của Quân trường mượn sách liên hệ đến máy chánh GMC 8-268 A, trang bị trên Trục Lôi Hạm (4) để tham khảo.
Nhiều buổi thuyết trình dành cho các SVSQ, Thầy Provençal (5) trình bày về việc học tập của SVSQ "Pont" khi chiến hạm ở biển, nhiệm vụ trực phiên hải hành, tham gia vào sinh hoạt hằng ngày của chiến hạm. Thầy Roland (6) giải thích chương trình học thực tập khi chiến hạm hải hành: nhiệm vụ trực phiên tại phòng máy, phân chia thời gian để vẽ sơ đồ các hệ thống ống dẫn dầu, nhiên liệu, nước biển, nước ngọt, khí nén liên hệ đến hai máy chánh; hệ thống ống nước cứu hoả cho cả chiến hạm, nhất là hệ thống làm ngập hầm đạn; hệ thống CO2 chửa cháy cho phòng máy chánh; hệ thống điện trên tàu.
" Thầy Lucien Provençal đi trên Cầu tàu Qui Nhơn, năm 1956.
Ảnh do SVSQ Bùi Xuân Đàm cung cấp ".
Hăng hái lên đường
Buổi sáng ngày Hè đẹp trời, tất cả mọi người đã chuẩn bị trước dãy lầu của Trường SVSQ, quận phục làm việc xanh tím, với hành trang đi biển dài ngày, nói cười vui vẻ, không quên vài câu bông đùa về chuyện say sóng sắp tới, đang chờ chỉ thị của Chỉ huy trưởng Trung Tâm Huấn Luyện Hải Quân (CHT TTHL HQ) Nha Trang, trước khi lên đường. HQ Trung Uý Kỹ Sư Cơ Khí Ủ Văn Đức, Đại Đội Trưởng SVSQ, căn dặn vài lời về quân phong quân kỷ, khi tất cả mọi người đã chỉnh tề trong hàng ngũ. HQ Đại Uý Chung Tấn Cang, CHT TTHL HQ, đến ban huấn từ về việc giữ gìn tác phong gương mẫu trên chiến hạm cũng như khi lên bờ đi thăm viếng thành phố, và ra viếng Cố đô Huế; cuối cùng chúc cả Khoá lên đường thu đạt nhiều kết quả trong học tập của chuyến hải hành dài ngày.
Đoàn xe chuyển bánh, ra khỏi cổng trường, quẹo phải, hướng về Cầu Đá quen thuộc. Ai cũng quay đầu nhìn dãy lầu Trường Sinh Viên Sĩ Quan, quét nước vôi màu vàng nhạt, với mấy cây dương thân khá lớn che rợp bóng mát ngày nắng Hạ, như tự nhủ lòng : sẽ xa trường hơn hai tuần lễ ! Qua khỏi vòng rào của Trường, rồi Bệnh Xá Hải Quân nằm sau những hàng dương cao, đoàn xe tiếp tục về Chụt; lên dốc, đổ xuống Hải Học Viện Nha Trang; và chạy thẳng xuống cầu tàu. Nơi đây đã có 3 Trục Lôi Hạm HQ 11 Hàm Tử (7), HQ 12 Chương Dương, HQ 13 Bạch Đằng, mang Quốc kỳ Việt-Nam Cộng Hoà; túc trực và đã khởi động máy chánh, chuẩn bị hải hành.
Ba Vị Hạm Trưởng trên Trục lôi hạm là HQ Đại Uý Nguyễn Vân, HQ Trung Uý Lộ Văn Dần, HQ Trung Uý Nguyễn Thanh Châu. Đại diện cho Ban Giảng huấn, HQ Pháp, phụ trách đào tạo chuyên môn hàng hải và kỹ thuật Hải Quân cho Khoá 7 SVSQ gồm có: HQ Trung Uý Lucien Provençal, HQ Thiếu Uý Kỹ Sư Cơ Khí Roland, và một số Hạ Sĩ Quan HQ Pháp tham gia hướng dẫn về kỹ thuật Cơ-Điện trên chiến hạm; cũng hiện diện trong chương trình thực tập hải hành của SVSQ.
Lệnh phân phối SVSQ trên 3 chiến hạm đã được soạn thảo một cách cân đối, về sĩ số SV tương ứng thuộc hai ngành "Pont", Máy, cùng các huấn luyện viên liên hệ của nhiều chuyên nghiệp khác nhau. Ban Giảng huấn cũng đựơc toả ra trên cả ba chiến hạm. Hai Trục lôi hạm cặp song song với cầu tàu, theo vị trí 1 và 2; và chiếc thứ ba buộc lái thẳng góc với cạnh của cầu tàu, mũi tàu buộc phao.
Trên mỗi chiến hạm, sau vài câu chào hỏi xã giao giữa Sĩ Quan đại diện chiến hạm với Ban Giảng
huấn, và giới thiệu các SVSQ; ổn định chỗ tạm trú xong, SV "Pont" lên Đài chỉ huy, SV Máy xuống
phòng máy chánh. Tiếng máy đã nổ đều, chờ lệnh tách bến; la-bàn-điện (8) đã được khởi động từ 3 giờ sáng. Trên Đài chỉ huy, SV "Pont" bố trí ngay bản đồ và tài liệu để đảm nhiệm phiên hải hành, ghi chú ngay Nhật ký hải hành. Các SV Cơ khí trước hết quan sát Bảng đồng hồ chính gồm nhiều nhiệt kế, áp kế, vòng/quay của Máy chánh; Bảng đồng hồ điều khiển hệ thống điện trên tàu; đi quanh phòng máy kiểm soát Máy phát điện, và hệ thống ống nước biển, nước ngọt, dầu nhớt, nhiên liệu, khí nén.
Chiến hạm bắt đầu vào nhiệm sở vận chuyển. Đài chỉ huy ra lệnh thử cần điều khiển hai máy chánh, có tiếng dây xích và tiếng chuông báo hiệu lệnh thay đổi tốc độ, hay vận chuyển tàu Tiến, Lùi. Không bao lâu sau, với vài lệnh cho máy Tiến, Lùi, chiến hạm đã tách bến. Vòng/Phút của hai máy chánh tăng dần. Độ nửa giờ hơn, chuông báo hiệu giải tán nhiệm sở vận chuyển.
SV Cơ khí (SV CK) có thể lên boong tàu, thở không khí trong lành ban mai của ngày Hè trên biển; gió nhẹ, rất mát. Biển êm, ánh mặt trời phản chiếu trên mặt biển như muôn ngàn tia nắng lấp lánh. Đứng trên boong, mới khởi hành, chưa thấy được Quân trường. Ba Trục lôi hạm ra khơi và hướng về Port Dayot (9).
Port Dayot như còn hoang dã
Đến gần trưa, ba chiến hạm vào Port Dayot, buông neo. Tất cả SVSQ, Ban Giảng huấn các Sĩ quan Hải Quân và Hạ Sĩ Quan Hải Quân Pháp, một số SQ và đoàn viên chiến hạm xuống tàu gỗ nhỏ (canot), trên chiến hạm gọi là "youyou" có gắn máy ho-bo (10) chạy xăng, lần lượt đưa mọi người lên bờ. Vịnh này được giới hạn bởi bán đảo Hòn Gốm ở phía Đông-Bắc và đảo Hòn Lớn ở Tây-Nam. Bờ Vịnh ở phía Đông có những bãi cát trắng xen kẽ với vách đá; phía Đông-Bắc có nhiều đồi cát ở trên cao, phủ nhiều cây xanh tươi.
Đi trên bờ cát chạy dài theo bờ Vịnh, bắt gặp nhiều ổ trứng của con ba-ba, còn gọi con đồi mồi. Mỗi ổ có đến hàng trăm trứng, nhỏ hơn trứng gà, tròn như trái banh bóng-bàn, vỏ rất trắng, mềm. Vùng này như không có dấu chân người, cũng không thấy thuyền đánh cá quanh Vịnh. Hình như chỉ có đường mòn đi vào Vạn giả. Thỉnh thoảng có những hàng dừa cao, nhưng không có dấu tích nhà cửa như trên đảo gần Côn Sơn, tương truyền tại đó ngày xưa các công chúa Nhà Nguyễn ra lánh nạn dưới thời Tây Sơn, Nguyễn Ánh giao tranh, để lại nền nhà cổ, một rừng dừa, đàn trâu lâu năm biến thành trâu rừng.
Mọi người trở về tàu dùng cơm trưa, rồi cả ba chiến hạm cùng nhổ neo, ra khỏi Port Dayot, đổi hướng về phía Bắc để tiếp tục tiến về Qui Nhơn. Hải hành cận duyên, trên bản đồ hàng hải, Mũi Varella (11) hiện ra. Trước khi đến Qui Nhơn, xuất hiện cù lao Poulo Gambir. (12).
Vịnh Thị Nại, Cảng biển vắng
Đến xế chiều, bóng mặt trời gần khuất sau rặng Trường Sơn, các chiến hạm vào neo trong Hải cảng Qui Nhơn, ngưòi địa phương gọi là Vịnh Thị Nại. Biển êm, ráng trời chiều còn lại "ánh nắng yếu-ớt" (13) nền núi cao như xanh thẫm xa xa, cảnh trí thật thơ mộng. Cả ba Trục lôi hạm đều neo trong Vịnh, phía Đông có bán đảo Phương-mai (14) với núi cao ngăn gió bảo vệ cho tàu thuyền buông neo. Thuyền bè, ghe chài đánh cá qua lại rất it.
Đây là lần đầu tiên Khoá 7 đến Qui Nhơn, ai nấy đều mong "đi bờ", ra viếng phố, miền này mới được thu hồi từ năm 1954. Lần lượt, các youyou gắn máy đưa SVSQ, các Thầy Hải Quân Pháp và một số SQ thủy thủ đoàn các chiến hạm vô bờ.
[Tới nay, dù đã trải qua gần nửa thế kỷ, có bạn đồng khoá, SV Bùi Xuân Đàm còn lưu giữ được ảnh chụp Thầy Provençal (15) mặc quân phục short trắng , trên cầu tàu Qui Nhơn ; SV Nguyễn Văn Hoa, Á khoa, đã có nhã ý đưa hình này vào bài viết và nhuận sắc].
Youyou vào cập cầu, ai cũng trông thấy chiếc cầu tàu độc nhất này đã cũ, rỉ sét, rất yếu, chứng tỏ không được bảo trì, sửa chữa suốt chín năm, từ 1945 đến 1954, dưới thời Liên Khu V. Theo người địa phương, suốt những năm dài ấy, miền Trung gồm một phần tỉnh Quảng Nam, và các tỉnh phía Nam từ Quảng Ngãi, Bình Định, đến Phú Yên, giáp ranh với tỉnh Khánh Hoà đều thuộc sự kiểm soát liên tục của Việt-Minh từ thời “Nam bộ kháng chiến, chống Pháp.” Chính quyền Việt-Nam thời ấy, phối hợp với Hải Quân Pháp cũng đã đổ quân vào bờ biển Tuy Hoà thuộc tỉnh Phú Yên vào khoảng 1952 - 53, cốt để thị uy hơn là bình định lãnh thổ; khi lên đến bờ và vào các làng mạc ven duyên hải, dân đã sơ tán, không có sự kháng cự nào.
Từ cầu tàu về thị xã Qui Nhơn chỉ có một con đường nhựa nhỏ (đường Gia Long), loang-lổ, như chưa bao giờ được tu bổ. Phương tiện lưu thông công cọng chưa được tổ chức. Vào thị xã, trời bắt đầu tối, chưa có hệ thống điện; hầu như sự buôn bán ở các phố nhỏ chỉ tập trung vỏn vẹn trên hai đoạn đường. Đến cuối phố, có rạp chiếu bóng, nghe tiếng máy phát điện nhỏ đang chạy. Trước rạp, chỉ có một bóng đèn vừa đủ sáng để bán vé vào cửa. Ít hàng kẹo bánh, đậu phụng (lạc) rang, bày bán hai bên lối vào rạp. Sự nghèo nàn của đồng bào sống trong những năm dài "tiêu thổ kháng chiến" đã biểu thị qua những dãy nhà cũ kỷ không tu sửa, đường sá hư hỏng đang chờ được trùng tu, ban đêm chưa có đèn thắp sáng lề đường, và những em bé gầy gò ăn mặc thốc-thếch bán kẹo bánh trước rạp chiếu bóng duy nhất của phố xá Qui Nhơn.
Trở về đúng giờ hẹn, còn điểm danh để xem còn thiếu ai chưa về, sau đó lần lượt xuống youyou trở về tàu. Có lẽ lúc ấy thuỷ triều xuống, youyou như ở dưới thấp, bước xuống khá khó khăn. Sau khi rời cầu cảng Qui Nhơn, youyou chạy về cập bên mạn tàu, đèn trên boong chiến hạm bật sáng, theo thang dây để bước lên boong. Lại bắt đầu nghe tiếng máy phát điện chạy, tiếng máy quạt gió lớn, hút gió bên trong lòng tàu thổi ra, mùi dầu ga-zoan (gas-oil) từ phòng máy chánh toả lên lan trong không khí. Vài ngọn sóng lớn phủ ống khí thoát và miệng ống thoát nước của máy phát điện bên hông tàu đôi lúc làm ngắt quảng tiếng máy chạy, sóng hơi lắc tàu chòng chành.
Khởi hành đi Cù lao Ré
Theo chỉ thị của Hạm Trưởng, chuẩn bị khởi hành, dạo ấy quen dùng từ "appareillage ". Các SV Pont, nhận bảng trực phiên hải hanh, SV CK cũng có bảng chia phiên trực ở phòng máy chánh. Không bao lâu sau, tiếng chuông hệ thống điều khiển tốc-độ máy chánh,bắt đầu báo hiệu. Mọi người biết là neo đã được kéo lên, trong giây lát, thử máy tiến, lùi và lên đường. Đã có lệnh giải tán nhiếm sở vận chuyển.
Vì là đêm hải hành đầu tiên của chuyến thực tập dài ngày trên biển, đêm ấy tất cả SV ngành Chỉ huy đều tề-tựu đông đủ trên Đài Chỉ huy để nghe thuyết trình về hải hành viễn dương. Hải trình sắp đến từ Qui Nhơn đi Cù Lao Ré (16). Tiếp đến có thực tập về chuyển nhận tín hiệu bằng đèn, giữa các chiến hạm. Thông thường, chiến hạm Hải Quân, bất luận đêm ngày gặp thương thuyền đi trong hải phận đều dùng đèn chuyển tín hiệu để hỏi "What ship ?" (17). Như trong trường hợp gặp tàu thuộc Hàng hải Thương thuyền của Nhật, được trả lời cũng bằng đèn tín hiệu, thí dụ : "SS London Maru" (18).
Các bạn ai có phận sự thì đã vào phiên trực; ai chưa tới phiên, vội tìm giấc ngủ ngắn ngủi, để tới giờ thay cho bạn. Thời kỳ của giai đoạn I, để thi Chuẩn Uý đã qua. Tưởng cũng nên nhắc lại, trong thời gian ấy, xem như Khoá 7 không bao giờ có được những ngày nghỉ cuối tuần trọn vẹn; tuần nào cũng nhận được thời-khoá-biểu do Thầy Provençal Giám Đốc Giảng Huấn ký, phổ biến, đều không quên mục "Thực tập Hải hành". Hể đến sáng thứ bảy, bất luận thời tiết mưa nắng, là "corvette hebdomadaire", lại chuẩn bị túi xách màu nâu gạch đựng bút viết, vở tập, vài trái cam, quít, đồ dùng cá nhân; SV ngành Cơ khí lại còn đem theo tấm bìa lớn bút chì, cục tẩy, với ít nhất cây bút chì xanh đỏ, để vẽ sơ đồ hệ thống ống, điện của các máy chánh, máy điện và của cả phòng máy. Rời Cầu Đá sáng thứ bảy, đến giữa trưa chủ nhật mới về lại trường. Thay quân phục trắng để đi bờ.
Hải hành về đêm, trực phiên ở Đài chỉ huy, hay ở phòng máy đã quá quen thuộc với SVSQ Khoá 7; nhất là khi trên cầu vai, cấp hiệu Chuẩn Uý kim tuyến còn óng ánh, với chỉ xanh dương chận hai đầu; thì các Bạn đồng khoá nay đã có kinh nghiệm hải hành, đã có nhiều tự tin về hải trình theo "cap"đã vạch ra (19), và những điểm thiên văn (20) xác định toạ độ của con tàu trên biển. Ngành Cơ khí đã có khả năng so sánh, phân tích các hệ thống điều khiển Tiến, Lùi của hộp số thuộc nhiều chiến hạm, hệ-thống đảo chiều của Máy chánh, nguyên tắc điều chỉnh tự động Vòng/Phút Máy chánh khi gặp sóng lớn quá tải hay chân vịt quay trên mặt nước…
Đêm nay, sóng không lớn mặc dù chiến hạm đã chạy xa bờ. Hải hành vào đêm mùa Hè ở ngoài Trung, càng về khuya, sao càng sáng tỏ, biển trời bao la, ngước nhìn lên bầu trời những vì sao lấp lánh, con người tự thấy bé nhỏ.
Đã khuya, phiên trực từ 20 giờ đến 24 giờ đã mãn, bắt đầu thay quart, có người bắt đầu lên nhận phiên trực, Đài chỉ huy gió lộng, ai cũng kéo cao cổ áo lên. Tiếng máy chánh vẫn nổ đều, khi gió thổi theo hướng tàu chạy, tiếng máy nổ nghe rầm rầm bên tai của người đương phiên trên Đài chỉ huy, lúc gió bạt đi, tiếng máy tàu như xa vắng. Âm thanh này khi rõ khi bị khoả lấp đi, cùng với làn gió rít về khuya, thoảng hơi sương lạnh, đã để lại cho người đi biển cảm giác khó quên của đêm hải hành dài.
Hải đảo, biển trong xanh
Từ Qui Nhơn đến Cù lao Ré, gần 100 hải lý (21), nhưng do hải hành xa bờ, hải trình dài hơn. Khi các bạn từ Đài chỉ huy xuống quart lúc 08 giờ sáng, thông báo cho bè bạn biết độ vài tiếng đồng hồ nữa, sẽ đi qua mủi Batangan; Cù lao Ré đã gần kề. Khởi hành từ 20 giờ đêm hôm trước đến gần 12 giờ trưa hôm sau, ba TLH đã đến gần bờ Cù lao Ré. Với gần 16 giờ hành trình, vận tốc trung bình 13 gút (22), chiến hạm đã vượt được 208 hải lý.
Biển êm, nắng sáng. Sau khi giải tán nhiệm sở vận chuyển, lệnh Hạm Trưởng cho đi bờ; dự trù trở lại tàu và sẽ khởi hành đi Đà Nẳng sao cho kịp vào Cảng Đà Nẳng sáng hôm sau, với nghi lễ bắn đại bác chào mừng vào Hải cảng. Trước khi xuống youyou thông lệ có điểm danh, ghi tên để dễ dàng kiểm điểm quân số đi, về. Sĩ Quan Trực của chiến hạm cũng có đưa ra tiêu lệnh khi lên bờ, tiếp xúc với người dân địa phương, giới hạn thăm viếng trên đảo, giờ trở về tàu.
Bờ biển Cù lao Ré thoai thoải, tương đối cạn. Nước trong xanh nhưng không có nhiều san hô như biển Nha trang. Điều này làm yên lòng cho nhân viên Vận chuyển đưa SVSQ và SQ, thuỷ thủ đoàn chiến hạm lên bờ; khỏi sợ san hô làm trầy vỏ và đáy thuyền. Từng đàn cá nhỏ bơi lội dưới nước hay đuổỉ theo thuyền. Thuyền chở khá đầy nhưng không sợ mất thăng bằng vì sóng nhẹ, trời không có gió. Từ ngoài nhìn vào hải đảo, bên phải là Nhà đèn pha dành cho tàu biển với vọng đài để quan sát, giữa đảo là khoảng đất trống, rộng, núi trủng ở trên đỉnh dạng núi lửa; và bên trái là ngôi làng của người dân sống trên đảo, cây cối xanh tươi, vượt lên trên các vòm cây, nhiều thân dừa cao. Bờ cát khá dài, lý tưởng cho bải tắm cuối tuần.
Ngoài xa có tàu chiến buông neo, rồi có người từ tàu vào bờ, trẻ em thấy lạ, đến bao quanh. Các bạn đồng khoá từng tốp năm ba người, đi một vòng trên đảo, từ bải ủi đến Nhà đèn pha, dừng lại chụp hình, nhất là tại vọng đài quan sát, Đèn pha; hoặc từ bải ủi đến khu làng trên đảo rất nhiều cây xanh. Cây ăn quả, dừa, nhiều chủng loại, chứng tỏ đất tốt chứ không thuần là cát pha. Theo người địa phương kể lại, đất tại đó trồng toải rất tốt, cũng có ít hồ tiêu. Thời điểm ấy, nền Cộng Hoà mới được hình thành, người dân đảo tuy chưa hưởng được tiện nghi văn minh như điện, nước, y-tế nhưng đã từng bước xây dựng trạm-xá khám bệnh phát thuốc, trường tiểu-học cho trẻ em trên đảo.
Qua ba điểm dừng chân : Port Dayot vắng vẻ, hoang-giả; Qui Nhơn còn nhuốm nổi khổ của những năm dài chiến tranh, khi Liên Khu V sống tách biệt hẳn với sự phát triển văn minh, không mang lại sung-túc cho người dân như các tỉnh khác ở Miền Nam; Cù lao Ré, nếp sống hầu như tự lực trong hoàn cảnh thiếu thốn, xa đất liền, liên lạc khó khăn nhất là những tháng mùa Đông mưa bảo. Đi đến các miền của Đất Nước, cũng là dịp để thấy, tìm hiểu về người dân địa phương; để từ đó dấy lên tinh thần phuc vụ, rạo rực trong lòng người thanh niên, khi Miền Nam vừa thoát khỏi cảnh 9 năm dài chiến tranh.
Các bạn đồng khoá đã lần lượt trở về đầy đủ trên chiến hạm. Bửa cơm trưa ngon miệng vì biển êm, anh hoả đầu vụ cũng vui lây theo tiếng cười lời nói bông đùa của toàn thể SVSQ trong bửa ăn, sau khi mới đi bờ trở về; có lần nói đùa là lên "lấy hơi đất", quên say sóng, hết mệt.
Đại bác bắn chào - thành phố Đà Nẵng
Buổi chiều, khởi hành đi Đà Nẳng. Cù lao Ré xa dần, chỉ còn thấy ngọn núi có chóp bằng, miệng núi lửa, tàu đổi "cap" . Thời tiết vẫn rất thuận lợi. Dạo ấy, nhân viên Vô-tuyến trên chiến hạm thường hay bắt tin tức Khí tượng phát đi từ Manila mỗi buối sáng lúc 03 giờ (hay 04 giờ), theo tín hiệu Morse.
Các bạn đồng khoá đã được phổ biến chương trình viếng Đà Nẵng, Cố đô Huế, thành phố cỗ Hội An. Ai cũng nao nức mong cho chóng đến Đà Nẵng. Những chuyến hải hành gặp đêm trời tốt, thế nào các SV Pont cũng có chương trình thực tập bổ túc về quan sát thiên văn, về hướng "Bắc địa-dư" đối chiếu với "Bắc từ".…
Chỉ còn hơn 70 hải lý, từ Cù lao Ré đến cửa vào Cảng Đà Nẳng. Nhưng lợi dụng tốt trời, chiến hạm đổi hướng ra khơi; dến khuya mới trở vào. Rạng sáng, trời còn sương mờ sà thấp trên mặt biển, ba Trục lôi hạm giảm vận tốc, hai Máy chánh "Tiến 1", thuỷ thủ đoàn trên tàu được huy động rửa boong tàu làm sạch sẻ để vào Cảng. Ban Hải pháo của chiến hạm chuẩn bị đạn giả để bắn đại bác chào mừng thành phố Đà Nẵng.
Khoảng 9 giờ sáng, ba chiến hạm đã chuẩn bị nhiệm sở vận chuyển, từ từ tiến vào cửa Đà Nẵng theo đội hình hàng dọc. SVSQ cũng như SQ trên chiến hạm, Hạ Sĩ Quan, Thuỷ thủ đoàn tham gia dàn chào đều mặc tiểu lễ trắng. Khi chiến hạm dẫn đầu, tiến qua khỏi Đài quan sát (23) thuộc bán đảo Sơn Trà, những phát đại bác chào mừng đầu tiên nổ vang rền. Rất nhiều ghe thuyền của ngư dân đi ra biển buổi sáng, ghe nào cũng treo cờ quốc gia, đa số còn chèo tay nhờ giòng chảy và thuỷ triều đưa đi nhanh thêm; hoặc dùng buồm và lái bằng cần lái dài. Họ hướng nhìn về các chiến hạm đang bắn đại bác chào thành phố, khói bay mù mịt, mùi thuốc súng lan toả theo gió; than bụi từ thuốc súng rơi trên nón, trên áo trắng của một số bạn đồng khoá.
Đoàn chiến hạm từ từ tiến vào lòng lạch, dẫn vào cầu tàu của Thương cảng và cầu tàu của Toà Thị chính. Luồng này được bờ kè đá xây dựng song song từ Cửa Sông Hàn vào gần cầu tàu Thưong cảng, có tác dụng chống cát bồi lắng xuống luồng tàu vào, ra. Các phao hải tiêu sơn nhiều màu qui ước khác nhau để đánh dấu chỗ nông sâu, hay đặt trên kè đá, bảo đảm cho ba Truc lôi hạm vào đúng luồng và đến cập vào cầu tàu đặc biệt của Toà Thị chính; mủi hướng thượng dòng.
Có một điểm cũng cần nhắc lại là vào sáng sớm, khi cả ba chiến hạm đã sẳn sàng để bắn đại bác chào mừng vào thành phố, Hải Quân Đại Uý Hồ Tấn Quyền, Chỉ Huy Trưởng (CHT) Hải Khu Đà Nẵng (24) đã dùng Truy kích đỉnh để đến Trục lôi hạm Hàm tử do HQ Đại Uý Nguyễn Vân chỉ huy, thăm viếng đoàn chiến hạm đến thành phố Cảng này. Sau đó, CHT Hải Khu Đà Nẵng rời tàu để qua Đà Nẵng, hướng dẫn các Hạm Trưởng đến viếng xã giao Ông Thị Trưởng Đà Nẵng, khi 3 chiến hạm vừa cập cầu xong.
Dân chúng thành phố Đà Nẵng vì hiếu kỳ hay có thiện cảm với chính thể Cộng Hoà đang trong thời kỳ nổ lực kiến thiết Đất Nước; nên đã tập trung khá đông bên bờ Sông Hàn, ngắm nhìn đoàn tàu chiến mang quốc kỳ Việt-Nam Cộng Hoà. Dọc theo bờ sông, có rất nhiều tàn cây cổ thụ, cành vương dài ra ngoài sông. Họ đứng nhìn đoàn tàu, màu sơn mới, vải bạt (bâche) rất sạch căng trên boong tàu sau khi cập bến. Hai bên lan-can của cầu tàu, những cờ chữ trong ngành Hàng hải đã được Bộ Chỉ Huy Hải Khu Đà Nẵng dùng để trang hoàng, tăng thêm phần long trọng cho ngày thành phố Đà Nẵng đón tiếp chiến hạm Hải Quân Việt-Nam.
Thăm viếng các Đại đơn vị Quân Đội ở Đà Nẵng
Ngay buổi sáng đầu tiên, tàu mới cập vào cầu tàu xong, một đoàn xe dài đã túc trực sẵn để đưa SVSQ
đi viếng Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 2 Bộ Binh (BTL SD2BB), do Đại Tá Tôn Thất Đính, Tư Lệnh Sư Đoàn. BTL SD nằm ở bên kia Sông Hàn, ngang với Toà Thị chính Đà Nẵng. Quân phục của SVSQuan trong ngày đi viếng các Đơn vị, Cơ quan là short trắng, sơ-mi ngắn tay, dày đen, bít tất trắng cao, mủ trắng.
Dưới sự hướng dẫn của HQ Trung Uý Lộ Văn Dần, Trưởng Phái Đoàn Hải Quân, SVSQ lên xe và
đoàn xe chạy dọc theo bờ sông, ngang qua Cổ Viện Chàm, tiến về hướng cầu Trịnh Minh Thế mà người dân địa phương còn gọi là cầu De Lattre. Cầu này khá dài, trước 1945, cầu này được dùng chung cho cả người đi bộ, các loại xe và tàu lửa; nối Tả và Hữu ngạn sông Hàn. Tàu lửa qua sông có thể rẻ về phía Nam chạy về Ngủ hành sơn (Chùa Non nước), hay rẻ về hướng Bắc đi Sơn Chà.
Doanh trại của BTL Sư Đoàn 2 Bộ Binh rất rộng, do Quân đội Pháp chuyển giao sau 1954. Đến phòng thuyết-trình của Sư Đoàn, có rất nhiều Sĩ Quan tiếp đón. Thời ấy, SQ Lục Quân mặc quân phục, quần dài, áo dài tay kaki, dày đen, mủ cát-két bọc coiffe kaki. Chương trình tiếp đón dành cho Khoá 7 gồm hai phần : Phần thứ nhứt, nghe thuyết trình về tổ chức của BTL Quân Khu II (đến mấy năm sau mới đổi lại là Quân Khu I Quân Đoàn I), bao gồm các Sư Đoàn và Đơn vị tác chiến Pháo Binh, Thiết Giáp, Đơn vị chuyên môn Quân Cụ, Quân Y và Quân Y Viện, Quân Nhu, Công Binh…Trong thời gian này, HQ Đại Uý Hồ Tấn Quyền cùng Đại Tá Tôn Thất Đính đến Hội Trường, thuyết trình viên nhường máy vi-âm cho Đại Tá Tôn Thất Đính, gởi lời chào mừng Phái đoàn Hải Quân và SVSQ Khóa 7 đến thăm viếng BTL SĐ. Đại Tá nhấn mạnh Quân Đội Việt-Nam Cộng Hoà phải mạnh để đương đầu với sự xâm nhập từ Vĩ tuyến 17. Phần thứ hai, thăm viếng các Phòng Tham Mưu của Sư Đoàn, và kết thúc bằng tiệc trà thân mật.
Buổi chiều cùng ngày, SVSQ tiếp tục đi viếng Cổ viện Chàm, và phố cổ Hội An , vào thế kỷ thứ 16 còn được gọi là Faïfo; lúc các thương nhân Bồ đào nha, Hoà lan đến giao thương ở cảng này. Có nhiều kiến trúc cổ bằng gỗ như Chùa Cầu, xây dựng từ thế kỷ 17, theo kiểu Nhật bản.
Sau đó về Tiểu Đoàn Quân Cụ gần bải biển Thanh Bình, chuyên sửa chửa Quân xa, Đại bác, và Vũ khí nhẹ; nghe thuyết trình trước rồi đi viếng các cơ xưởng. Đến tối, dự tiếp tân do Ông Thị trưởng Đà Nẵng khoản đải Phái Đoàn Hải Quân gồm Chỉ Huy Trưởng Hải Khu Đà Nẵng, các Vị Hạm Trưởng, SQ chiến hạm và SVSQ; quân phục tiểu lễ. Phòng Khánh tiết của Toà Thị chính ở lầu 1, có nhiều cửa rộng nhìn ra bờ sông, nơi đây hiện có ba Trục lôi hạm đang cập cầu; dây đèn thắp sáng trưng. Diễn từ của Ông Thị trưởng biểu thị sự vui mừng của người dân thị xã Đà Nẵng , và các đoàn thể được lên viếng chiến hạm và gởi lời chào mừng Phái Đoàn HQ cùng tất cả SVSQ. Buổi tiếp tân bế mạc. Trở về chiến hạm, SVSQ chuẩn bị hành lý gọn để sáng hôm sau lên đường đi Cố đô Huế, ở lại hai ngày.
Đường ra Cố đô Huế
*
*
... Đôi tà áo hiện lên, mỉm nụ cười duyên.
Chiếc nón bài thơ cầm hờ, cửa vô Kinh thành cổ.
Mái tóc thề lưu luyến ấy .
Phải chăng.
Niềm rung-cảm xa vắng.
Vấn-vương tâm-hồn.
Những chàng trai áo trắng .
Đệ Nhất Thiên Xứng năm xưa.
Một thoáng xa biển, lạc bước đất thần kinh !
....
Đoàn xe của Sư Đoàn 2 Bộ Binh đến đậu thành hàng dài trước cầu tàu Toà Thị chính, túc trực từ 7 giờ sáng. Khoảng hơn 8 giờ, SVSQ sắp hàng nghe HQ Trung Uý Lộ Văn Dần phổ biến chưong trình đi Huế. Sau đó, lên xe. Khoảng 8 giờ rưởi thì cả đoàn xe lăn bánh, chạy ra ngả ba Huế, rồi Nam Ô, qua cầu Nam Ô, đoàn xe bắt đầu lên đèo Ải Vân. Lên tới lưng chừng đèo, nhìn về bên phải là vịnh Đà Nẵng, vượt qua bên kia vịnh là bán đảo Sơn Trà với Bộ Chỉ Huy Hải Khu Đà Nẵng ở chân bán đảo này. Xa hơn, về phía Nam là phi trường Đà Nẵng. Đường lên đèo chạy quanh co, gấp khúc, dài hơn 6 cây số, mới đến đỉnh đèo Ải Vân. Dù trời nắng, nhưng thỉnh thoảng vẫn có những đám mây bạc dày, trôi lơ-lửng ngang qua đèo này, đoàn xe như lẫn vào đám sương mù dày-đặc.
Xuống đèo, cũng còn những cụm mây thổi bạt ngang đoàn xe, hầu như lúc đó xe nào cũng bật đèn sáng. Xe chạy cách nhau hai mươi thước, cũng không thấy rõ. Đường đổ đèo, nhiều khúc quẹo ngặt. Cây đủ thứ loại mọc um-tùm hai bên đường đèo, nhiều cây cao với thân cây to lớn trên triền núi. Đi được nửa đường, có một suối nước rất trong, nhiều bóng cây im mát; xe đò, xe chở khách thường dừng lại cho hành khách xuống xe nghỉ ngơi, tài xế cũng lợi dụng thì giờ để lấy nước suối đổ vào bình nước của máy xe. Gần cuối đoạn đường này, cảnh trí về phía phải rất đẹp. Trời biển bao la, bờ và cồn cát trắng thật rộng nhô ra ngoài biển như chắn luồng nước chảy vào đầm Lăng Cô. Nhiều cụm dừa hợp lại thành rừng dừa chạy dài suốt giải đất làng chài Lăng Cô, rất nhiều cây xanh. Từ quảng đưòng cuối đèo, đã trông thấy cây cầu trên Quốc lộ I, bắt ngang đầm này, nối vào tuyến đường bộ ở chân đèo Ải Vân, đi về phía Bắc.
Cũng trên đường dốc đổ về Lăng Cô, sắp xuống hết đèo, ở mỏm đất bên phải, tấm bia đá lớn dựng trên lưng rùa cũng bằng đá cẩm thạch, trên bia khắc tên Kỹ sư Công chánh người Pháp cùng các cộng sự viên đã xây dựng đường đèo Ải Vân (25).
Khi đoàn xe bắt đầu qua cầu, trông thấy bên trái là đầm cạn, nước trong, dạng hình tròn rất rộng. Bọc
quanh đầm nước mặn này, bên trái có đường xe lửa , ga Lăng Cô ở xa; bên phải là Quốc lộ I xuyên qua khu dân-cư, nhưng cư dân chỉ cất nhà bên lề phải Quốc lộ. Nhiều hàng quán bán thức ăn, đặc biệt sò huyết.
Trên đường ra Huế, đoàn xe không dừng lại ở đây. Nhưng ngày rời Huế, trở lại Đà Nẵng, xe phải dừng lại khá lâu ở Lăng Cô để chờ cho tất cả xe đò, xe hàng từ phía Đà Nẵng ra Huế, đổ đèo xong xuôi; thì cả đoàn vừa xe dân sự, xe hàng, xe đò, và xe quân đội mới bắt đầu lên đèo. Trong thời gian chờ qua đèo trở vào Đà Nẵng, có dịp để thưởng thức món cháo sò tại địa phương này.
Từ đây ra Huế, không còn đèo lớn; chỉ còn một đèo ngắn, không cao lắm; thỉnh thoảng Quốc lộ băng qua những ngọn đồi dốc thoai thoải. Càng gần đến Huế, đường càng dễ chạy, đoàn xe như muốn tăng tốc độ. Phi trương Phú Bài cách thành phố Huế 12 cây số. Đến đây, ruộng vườn nhiều ở cả bên trái, phải của Quốc lộ, vì có nhiều sông nhỏ nước ngọt.
Chạy hết đoạn đường dài khá thẳng từ Phú Bài về gần đến An Cựu, đoàn xe quẹo phải, rồi qua cầu nhỏ, vẫn còn Quôc lộ I, bắt đầu vào An Cựu, tiếp tục đến đầu múi cầu Tràng Tiền, tên cũ Pont Clemenceau; dừng lại tại Khách Sạn cũ Morin. SVSQ xuống xe, nghỉ chân. Lúc ấy cũng gần trưa, trời nắng sáng. Trong văn chương dân gian, người Huế có câu hò mô tả chiếc cầu này là " Cầu Tràng tiền sáu vài, mười hai nhịp…". Cầu được hãng Eiffel của Pháp xây dựng cuối thế kỹ XIX. Đứng ở múi cầu này đã nhìn thấy giòng sông Hương. Ở xa, bên kia bờ tả ngạn, nhô lên trên những hàng cây xanh là tường thành bao bọc Thành Nội, và kỳ đài với quốc kỳ thật lớn. Trước ngày khởi hành của chuyến hải hành dài ngày này, anh em SVSQ cũng mong ra Huế, thời đó hay gọi là "miền Sông Hương Núi Ngự".
Trước 1954, Morin là khách sạn Pháp lớn, thành phố Huế. Khi quân đội Pháp rút khỏi Huế theo hiệp định Genève, cơ sở quân sự ngày trước được chuyển giao cho Quân Đội Việt Nam Cộng Hoà, như "đồn Săn-đá" -- do ngày xưa trong dân gian đọc trại chữ soldat -- đã trở thành Bộ Tư Lệnh Đệ Nhị Quân Khu; Trung Tướng Trần Văn Đôn, Tư Lệnh Đệ Nhị Quân Khu. Kiều dân Pháp nhượng lại biệt thự, nhà cửa, cơ sở kinh doanh thương mãi cho tư nhân hay chính phủ Việt-Nam; trong dó có Khách sạn Morin và cửa hàng thực phẩm lớn Magasin Chaffanjon. Cửa hàng bách hoá này rất lớn đã trở thành Câu lạc bộ Sĩ Quan của BTL Đệ Nhị Quân Khu. Trong thời gian lưu trú tại Huế, đây là chỗ dùng cơm hằng ngày cho phái đoàn Hải Quân và SVSQ. Chỗ ở với nhiều phòng ngủ, giường đôi, nệm, vải trải giường trắng rất sạch sẻ, đó là toà nhà của Khu Công chánh Miền Trung (Arrondissement des Travaux Publics) do Pháp chuyển giao; nằm trên bờ sông An Cựu, cũng có câu hò : "Sông An Cựu nắng đục mưa trong… ".
Toà Đại biểu, lăng tẩm, kinh thành, Đại Nội
Buổi chiều đầu tiên đến Huế, SVSQ theo đoàn xe đi viếng lăng tẩm như lăng Vua Tự Đức, Khải Định ở bờ hữu ngạn Hương giang; rồi tiếp tục lên thượng giòng sông Hương; qua đò chèo tay để viếng lăng Minh Mạng.
Lăng tẩm triều Nguyễn ngoài vẽ đẹp của kiến trúc cổ, cũng quy mô, như nhà thuỷ tạ , hồ sen đào trên
ngọn đồi ở lăng Vua Tự Đức, các bậc thềm lăng Khải Định với tượng voi chầu, tượng các quan trong triều ở hai bên sân rộng; còn để lại truyền thuyết về biến cố "loạn chày vôi" do ba anh em Đoàn Trưng, Đoàn Trực, Đoàn Ái cùng dân phu xây dựng Khiêm Lăng, lăng Vua Tự Đức, nổi lên chống nhà vua nhưng bất thành. Sở dĩ trong dân gian, gọi là "loạn chày vôi" vì sự uất ức cùng cực của dân các nơi bị bắt buột đi đào hào đắp luỹ xây lăng, nên đã dùng chày dã vôi chạy về kinh thành chống đối.
Ngoại thành của Huế những năm ấy còn dấu vết của 9 năm chiến tranh chống Pháp, nhất là ở vùng núi, thu nhập thấp, người dân nghèo, nhà cửa xiêu vẹo.
Qua ngày thứ hai tại Huế, trời vẫn còn nắng đẹp. Từ sáng sớm, đoàn xe biệt phái đã túc trực trước Khu nhà Sĩ Quan tạm trú. Chương trình viếng cố đô tiếp tục. Chúng tôi đến Toà Đại biểu Chính phủ Trung nguyên Trung phần. Đây là khu đất rất rộng, dùng để tổ chức hội chợ, nằm gần Toà Công sứ Pháp cũ trước 1945. Năm 1948, trên nền đất Khu hội chợ cũ, được xây dựng Phủ Thủ Hiến Trung Việt, dưới thời Quốc Trưởng Bảo Đại. Sau ngày Thủ Tướng Ngô Đình Diệm về chấp chánh, được đổi lại là Toà Đại biểu Chính phủ.
Dẫn đầu phái đoàn Hải Quân thăm xã giao Ông Đại biểu Chính Phủ là HQ Đại Uý Nguyễn Vân, HQ Trung Uý Lộ Văn Dần, HQ Trung Uý Nguyễn Thanh Châu, với quân phục đại lễ trắng mang kiếm; các SVSQ mặc tiểu lễ. Phái đoàn được Ông Đại biểu tiếp ở phòng Khánh tiết; mở đầu, Đại Uý Trưởng phái đoàn ngỏ lời chào mừng Ông Đại biểu, và điểm qua các công trình mà Chính phủ của Tổng Thống Ngô Đình Diệm đã thực hiện ở miền Trung; kết thúc bằng lời chúc Ông Đại biểu và Quý Vị đại diện Chính phủ cùng đồng bào Thừa thiên - Huế đạt nhiều thành tích trong công cuộc xây dựng Đất Nước.
Đáp từ, Ông Đại biểu Chính phủ thay mặt cho Toà Đại biểu và đồng bào địa phương chúc phái đoàn và các SVSQ Khoá 7 Trường Sĩ Quan Hải Quân Nha Trang, cùng toàn thể Sĩ Quan, Hạ Sĩ Quan Thuỷ thủ đoàn của ba Trục lôi hạm thực hiện cuộc viễn du thành công, và chúc Quân chủng Hải Quân phát triển để bảo vệ bờ cỏi Tổ Quốc. Tiếp theo là tiệc trà nhẹ.
Buổi chiều cùng ngày, đi thăm chùa Thiên Mụ và Đại Nội. Chùa này được xây từ thời Chúa Nguyễn trên một ngọn đồi, bên bờ tả ngạn Hương giang. Lên các bậc thềm cao, nhìn xuống giòng sông nước xanh, lửng lờ, một hai chiếc đò xuôi ngược buông mái chèo tay; núi Thiên thai ở xa cùng rặn Trường sơn điệp màu xanh tím. Đường đi vào chùa, giữa có tháp Phước Duyên cao 6 tầng, bên trái có nhà chuông lớn (năm 1710), bên phải nhà bia và rùa đá (1715). Đi qua sân rộng, lầu trống phía trái, lầu chuông phía phải; ca dao có câu :"Tiếng chuông Thiên Mụ, canh gà Thọ Xương". Chùa xưa xây thấp nhưng khá rộng.
Rời đây, đoàn xe về lại con đường Kim Long, ngang chợ Kim Long, dòng nữ tu và viện mồ côi, tất cả đều nằm ở phía trái; bên phải là bờ sông Hương. Qua cầu ngắn bắt ngang kinh đào bảo vệ kinh thành, xe chạy về bến Phú Văn Lâu, bến Thương bạc. Nơi đây Vua Duy Tân năm mười sáu tuổi, đang đêm xuống thuyền ở bến Thương bạc để chuẩn bị khởi nghĩa chống Pháp, nhưng không thành (1916).
Xe vào Thành nội qua cửa Thượng Tứ. Để vô viếng Đại Nội, xe chạy qua cửa Hiển Nhơn. SVSQ bắt đầu chương trình từ lầu Ngủ Phụng, cửa Ngọ Môn, đi qua cầu trên hồ sen, đến sân chầu trước điện Thái Hoà. Vua Gia Long lên ngôi năm 1802, xây kinh thành tại Phú Xuân. Hơn 150 năm sau, công trình kiến trúc vẫn còn đó. Điện Thái Hoà thật rộng lớn, chống đở mái ngói bằng những hàng trụ to bằng gỗ kiền-kiền; chính giữa điện còn có bệ gỗ và chiếc ngai sơn son thếp vàng, ngày xưa Vua ngự triều, các quan đình thần đều đứng chầu hầu. Đến Thế Miếu nơi thờ tự các Vị tiên đế, cửu đỉnh, chín chiếc lư lớn tượng trưng cho chín đời vua. Trong Đại Nội trồng rất nhiều cây bông sứ trắng; đặc biệt, cây tùng thật lâu năm thân uống cong mà các nhà nhiếp ảnh nổi tiêng thời đó ai cũng đến chụp hình.
Kết thúc buổi chiều viếng Đại Nội bằng cách dừng lại tại những khẩu đại bác thần công, đúc bằng đồng đen, nòng rất dài, khẩu độ lớn, đặt trên bệ gỗ dày, có bánh xe lăng. Hai bên sân rộng dưới kỳ đài, trước cửa Ngọ Môn, có hai dãy nhà che mưa nắng cho đại bác thần công. (Năm 1961, người viết bài, trong một bửa cơm tối thân hữu tại Nhà ăn Sĩ Quan Hải Quân Công Xưởng Sài-Gòn, được ngồi gần các Kỹ Sư Nhật : Ông Tadao Koga, Cố vấn Xưởng Kim khí, Ông Ichise, Cố vấn Xưởng Vỏ Tàu, có thuật lại lần viếng Đại Nội Huế trước đó, và nói lúc triều Nguyễn xây kinh thành Huế vào năm 1802 thì Nhật chưa có công trình quy mô như vậy, nhất là kỹ thuật đúc đại bác thần công).
Sau hai ngày lưu lại Huế, đoàn xe lại lên đường trở về Đà Nẵng buổi sáng sớm; vòng qua An Cựu; rồi theo Quốc lộ I. Cuộc thăm viếng Cố đô chỉ vỏn vẹn có hai ngày, nhưng đã đến những danh lam thắng cảnh nổi tiếng và kinh thành triều Nguyễn, nơi đã để lại nhiều chứng tích trong lịch sử Việt-Nam; nhất là vào hậu bán thế kỷ XIX , đã liên tiếp xảy ra nhiều biến cố.
Lại trời biển bao la
Về lại thành phố Đà Nẵng, bóng "con tàu thân thuộc" hiện ra, cuộc du ngoạn đã chấm dứt, tất cả SVSQ xuống xe, và lần lượt đưa hành lý lên tàu. Tiếng máy phát điện chạy, mùi khói từ ống thoát hơi lan theo gió, và mùi sơn mới của chiến hạm… làm mọi người trở về với nhiệm vụ của những ngày sắp tới trên biển. Khi nghĩ rằng trên cầu vai đã mang cấp hiệu Chuẩn Uý, những ngày thực tập sắp đến sẽ là cơ hội thâu thập thêm kinh nghiệm để mai đây ra trường có thể đảm nhiệm trách vụ giao phó; tự tin vào khả năng của mình để phục vụ hữu hiệu.
Hôm đó là ngày cuối cùng, buổi chiều, trên 3 Trục lôi hạm, phái đoàn Hải Quân có tổ chức buổi tiếp tân đáp lễ Ông Thị Trưởng và Hải Khu Đà Nẵng, cùng các Đại diện Đơn vị Quân Đội.
Sáng hôm sau, trời bớt nắng, ba Truc lôi hạm chuẩn bị hải hành : tất cả những tấm "bạt" trên boong đều được tháo gở và xếp gọn lại. Trước giờ nhiệm sở vận chuyển, Đài chỉ huy đã thấy có nhiều SVSQ ngành Chỉ huy, lần lượt nhiều SVSQ Cơ khí đã xuống phòng máy, rộn rịp chuẩn bị giờ khởi hành. Lát sau, Máy chánh khởi động, cả ba chiến hạm vào nhiệm sở vận chuyển. Lần lượt từng chiến hạm tách bến. Anh em quân nhân Hải Quân thuộc Hải Khu Đà Nẵng gở nốt vòng dây buộc tàu cuối cùng trên trụ buột dây. Đội hình hàng dọc, trên sông Hàn, để ra cửa biển.
Tàu chạy độ 5 phút, bờ hữu ngạn là làng chài, tả ngạn là thành phố Đà Nẵng, thời kỳ bảo hộ, gọi là Tourane, nhượng địa của Pháp (26). Trên con đường lớn song song với bờ sông Hàn, còn nhiều kiến trúc, cơ sở, xây cất từ đầu thời Pháp thuộc. Hết giải đất tả ngạn, chiến hạm bắt đầu vào luồng lạch để ra cửa biển; nhắm hướng theo trục của 2 trụ đèn đặt cao thấp khác nhau trên dãy đồi thấp cuối vịnh.
Hôm ấy, biển bắt đầu có gió, chân trời mây kéo tới, báo hiệu ngày biển động nhẹ. SVSQ cả hai ngành Chỉ huy và Cơ khí đã được phân công ai nấy đều có nhiệm vụ trong chuyến hải hành trở về trường. Ngành Chỉ huy, còn phải thâu thập số liệu, nhận xét trong các hải trình vừa qua; ngành Cơ khí, kiểm điểm lại đặc tính, sơ đồ hệ thống của máy chánh, máy phát điện, nhận xét trong các phiên trực tại phòng máy lúc tàu chạy… để làm báo cáo tổng hợp sau chuyến hải hành dài ngày.
Những ngày đặt chân lên các hải đảo, viếng các thành phố miền Trung và Cố đô đã qua đi nhanh chóng. Trước mắt, giai đoạn tới, chương trình giảng huấn mà SVSQ sắp đón nhận sẽ nặng thêm và chuyên sâu hơn cho đến ngày thi mãn khoá. Tuy nhiên trong trí mọi người cũng gợi lên niềm vui, phấn khởi vì đã được nghe tin có thể có cuộc viễn du qua các nước Đông Nam Á, như Khoá 6 đã thực hiện sau ngày ra trường, mà thời đó báo chí trong nước đã đề cập.
Ba Trục lôi hạm với quốc kỳ tung bay, lệnh kỳ đuôi nheo (27) theo gió bay vờn qua trụ cờ, tàu rẻ sóng ra khơi, vận tốc tăng lên, tiếng máy tàu nổ mạnh; trên Đài chỉ huy hay dưới Phòng máy, mọi người chăm chú vào công tác và nhiệm vụ của người SVSQ thực tập trên chiến hạm, ý thức trách nhiệm, khi nghĩ đến ngày ra trường…■
*
Đệ Nhất Thiên Xứng / ngành Cơ khí
Nguyễn Văn Quang
Strasbourg, ngày 05/Oct/2003
Chú Thích :
(1) Pont (2) Machine (3)Thực tập cuối tuần trên biển, Corvette hebdomadaire
(4) Trục lôi hạm YMS
(5) Enseigne de Vaisseau de 1ère classe Lucien PROVENÇAL, HQ Trung Uý
(6) Ingénieur Mécanicien de 3e classe ROLAND, HQ Thiếu Uý Kỹ Sư Cơ khí
(7) Trục lôi hạm Hàm Tử HQ 11, nguyên là Dragueur Aubépine, HQ Pháp, chuyển giao cho HQ Việt-Nam ngày 11/2/1954; theo Jane's Fighting Ships, Ed. 1973/74, page 594
(8) Compas gyroscopique
(9) Trên bản đồ ghi Port Dayot, tên của nhà hàng hải Dayot, đã tìm thấy vịnh này cuối thế kỷ thứ 18. Một thế kỷ sau, HQ Đại Uý Jacquemart, người Pháp, đã nghiên cứu đến khía cạnh chiến lược của vịnh này. Hạm đội của Nga hoàng do Đô Đốc RODJESTVENSKI chỉ huy, đã tránh bảo ở vịnh Cam Ranh từ ngày 14 đến 24 tháng 4 năm 1905; rồi lên neo tại Port Dayot, được tập hợp thêm lực lượng của NÉGOBATOV ngày 9 tháng 5 năm 1905; gồm 4 Hạm đội, nhiều tàu tiếp tế. Tất cả Hạm đội này đã rời Port Dayot ngày 14 tháng 5 năm 1905, tiến lên bờ biển Nhật và bị đánh đắm gần Tsu-shima. Theo Guides Madrolle , Editions Géographiques, Maritimes et Coloniales PARIS, 1939.
Theo Atlas des Colonies Françaises, Librairie Armand Colin, PARIS, 1902; Port Dayot còn được gọi là "Baie de Van-Phong" (nguyên văn).
(10) hors bord
(11) Cap Varella, dân gian gọi là Mủi Đại Lãnh, gần đèo Cả
(12) Poulo Gambir, dân gian gọi là Cù lao Xanh
(13) Nhà Văn, Thơ Xuân Diệu tả cảnh chiều ở Huế
(14) Bán đảo Phương mai, Guides Madrolle, PARIS 1939
(15) HQ Trung Uý Lucien PROVENÇAL
(16) Còn gọi là Cù lao Ray, Poulo Canton, trên bản đồ Atlas des Colonies Françaises, PARIS, 1902
(17) Hỏi tên thương thuyền
(18) Tên tàu biển Nhật, máy động lực dùng hơi nước, steam ship. “Maru” tiếng Nhật là “hình tròn”, biểu tượng của quốc kỳ Nhật. Chữ Maru được dùng từ thế kỷ 16, để ghép vào tên thương thuyền lớn của Nhật “Nippon Maru ” .www.icr.orgInstitute for Creation Research
(19) "Cap", góc độ hướng đi của tàu
(20) Point astronomique
(21) 100 hải lý hay 185 cây số đường bộ
(22) "Gút", hải lý / giờ
(23) Île de l'Observatoire, trên bán đảo Sơn trà.Theo Guides Madrolle PARIS, 1939, gọi là Tiên-chà
(24) HQ Đại Uý HỒ TẤN QUYỀN, Chỉ Huy Trưởng Hải Khu Đà Nẵng năm 1956 ; và sau đó đã đảm nhiệm các chức vụ kế tiếp như sau :
Năm 1957 - 1959 : Hải Quân Thiếu Tá, Tham Mưu Trưởng Hải Quân
1959 - 1963 : HQ Trung Tá rồi Đại Tá năm 1960, Tư Lệnh Hải Quân, đã bị ám hại trưa ngày 1 tháng 11 năm 1963, trong cuộc đảo chánh ngày 1/11/1963, lật đổ Tổng Thống NGÔ ĐÌNH DIỆM.
Khi Khoá 7 chưa thi giai đoạn I, để mang cấp Chuẩn Uý, một buổi sáng trời Nha Trang thật nắng, có Hải Vận Hạm quốc kỳ Việt Nam Cộng Hoà vào ủi bải (beaching) trước Quân trường. Hạm Trưởng là
HQ Đại Uý HỒ TẤN QUYỀN, lên viếng Bộ Chỉ Huy Trung Tâm Huấn Luyện Hải Quân (TTHLHQ), đã được HQ Đại Uý CHUNG TẤN CANG, Chỉ Huy Trưởng TTHLHQ Nha Trang hướng dẫn đến Phòng Giảng lớn của SVSQ; và giới thiệu HQ Đại Uý Quyền với Khoá 7. Tại đây, Hạm Trưởng Hải Vận Hạm đã thuyết trình về hai chữ “Phục Vụ ”.
Vị Tư Lệnh Hải Quân Việt Nam Cộng Hoà trước ngày 30 tháng Tư năm 1975 là Phó Đô Đốc CHUNG TẤN CANG.
(25) Bia đá cẩm thạch đặt trên lưng rùa cũng bằng cẩm thạch. Sau 1975, bia đá này đã bị phá huỷ.
(26) Tourane, nhượng địa của Pháp, theo Sắc Lệnh (Ordonnance) ngày 3 thang 10 năm 1888 của Vua Đồng Khánh. Guides Madrolle, page 190, PARIS, 1939.
(27) Flamme de guerre. ■
" Ảnh Trục Lôi hạm HÀM TỬ HQ 11, do Hải Quân Trung Tá Vũ Hữu San, Hạm Trưởng Khu Trục Hạm TRẦN KHÁNH DƯ HQ 4, sưu tầm và gởi tặng Khoá 7, nhân ngày Họp Mặt Đệ Nhất Thiên Xứng lần đầu tiên ở Hải ngoại, 11 tháng Mười 2003, tại Huntington Beach, Nam Cali. "
*